Đôi Hàng Lịch Sử Giáo Xứ Thánh Antôn và Lê Văn Phụng
 | | Lịch sử của giáo xứ Thánh Antôn và Lê Văn Phụng manh nha từ những năm đầu của thế kỷ 20. Năm 1909, khi xưởng | | | lọc dầu Standard Oil Refinery ra đời, thành phố Baton Rouge bành trướng rất nhanh về phía Bắc. Nhiều cửa tiệm, hãng sở và nhà cửa mộc lên như nấm.
|
 | | Thời gian đó cả thành phố Baton Rouge chỉ có một thánh đường thuộc giáo xứ Thánh Giuse (ngày nay là nhà thờ chính | | | tòa Baton Rouge.) Ở phía bắc của thành phố chỉ vỏn vẹn chỉ có thêm một nhà thờ họ lẻ, mang tên thánh Gioan Tiền Hô, gần Zachary.
|
 | | Các linh mục xứ Thánh Giuse vừa trông coi giáo dân của Baton Rouge kiêm những vùng phụ cận như Zachary, Baker, | | | Greenwell Springs, và Scottlandville. Phương tiện đi lại thời đó là các loại xe ngựa; đường xá là những con đường đất và đường mòn nối liền những vùng dân cư.
|
 | | Những khu vực nằm ngay phía bắc của lằn ranh thành phố Baton Rouge thời đó mang tên là vùng ngoại ô Istrouma, gồm | | | có những khu xóm như Standard Heights, Fairfilds, và những nhóm nhỏ khác trên các con đường mang tên các bộ lạc dân Da Đỏ như Tecumseh, Pocahontas, Osceola, Hiawatha, Chippewa, Seneca, Ontario, v.v...
|
 | | Năm 1911, Cha Drossaerts, chánh xứ Thánh Giuse tậu mãi 3 lê đất ở góc đường Tecumseh và Ontario, cách đường | | | Chotaw 5 lốc, với chủ ý xây một nhà thờ họ lẻ. Mãi 10 năm sau (1921) nhà thờ này mới được xây cất và đặt tên là nhà thờ Thánh Antôn. Các cha ở xứ Thánh Giuse thường xuyên đến đây dâng lễ để giáo dân vùng này khỏi phải về mãi Baton Rouge dự lễ.
|
 | | Ngày 1 tháng 7 năm 1920, Đức Tổng Giám Mục New Orleans nâng họ lẻ Thánh Antôn lên hàng giáo xứ, đồng thời cử | | | xứ đầu tiên là cha Lawrence. Tân giáo xứ có 225 gia đình gồm khoảng 900 giáo dân.
|
 | | Hai năm sau (1922), số giáo dân tăng lên đến khoảng 1000 người và giáo xứ đã thấy cần phải xây một nhà thờ lớn hơn.
|
 | | Năm 1923, ngôi nhà thờ mới được dựng nên lại địa điểm 2929 đường Scenic Highway. Vị linh mục chánh xứ thứ hai | | | cũng được bổ nhiệm, ngài quê ở New Orleans và sau đó đã coi sóc giáo xứ suốt 25 năm, đó là cha Thomas Colbert.
|
 | | Chính cha Colbert đã mua khu đất ở góc đường Choctaw và Tecumseh vào khoảng năm 1930, nơi tọa lạc nhà thờ | | | Thánh Antôn và Lê Văn Phụng ngày nay.
|
 | | Năm 1936, một hội trường được xây lên tại khu đất mới dùng làm Thánh Đường đủ dung chứa số giáo dân khoảng | | | 2.800 người. Nhưng chỉ mấy năm sau (1942) nhà thờ đã trở thành quá chật chội mặc dầu mỗi Chúa Nhật có 6 lễ.
|
 | | Năm 1944, Đức Tổng Giám Mục New Orleans tách phần đông bắc của giáo xứ để thiết lập một giáo xứ mới (xứ Thánh | | | Gerard), tuy vậy số giáo dân còn lại của xứ Thánh Antôn vẫn là 3200 người tính đến năm 1946.
|
 | | Giấc mơ có một ngôi trường học cho giáo xứ được thành tựu năm 1936 trên con đường Scenic Highway do các Sơ | | | dòng Đức Bà đảm trách. Mười năm sau (1946), chương trình trung học được thêm vào. Hai năm sau, trường trung học chỉ nhận nữ sinh ma thôi.
|
 | | Năm 1948, cha xứ mới được bổ nhiệm (cha Murphy), ngài cũng quê ở New Orleans, và trông coi giáo xứ 18 năm cho | | | đến ngày ngài qua đời vào năm 1966.
|
 | | Khi Cha murphy đến, nhân số của giáo xứ là 4.800 người và sĩ số của Trường Thánh Antôn trong niên h ọc 48-49 là | | | 775 em. Thời gian này do sĩ số ngày càng gia tăng, nhà trường đã xây thêm những lớp học, thêm nhà ăn (ngày nay là Hội Quán Le Van Phung) và thêm nhà gym (nhà văn nghệ và thể thao, ngày nay là Hội Trường St. Anthony).
|
 | | Giáo xứ cũng mua thêm đất trên đường Teumseh để xây tu viện cho các nữ tu dòng Đức Bà. Năm 1952, nhà dòng được | | | hoàn tất (ngày nay là Trung Tam On Goi ICM) với phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ của mấy sơ, và nhà nguyện trên lầu.
|
 | | Ngày lịch sử của giáo xứ đã đến trong sự trong mong của mọi người: ngày 6 tháng 7 năm 1952, giáo dân tề tựu tại địa | | | điểm góc đường Choctaw và Tecumseh để tham dự nghi thức làm phép đất cho ngôi Thánh Đường tương lai. Đức Ông quản hạt Baton Rouge là Herman Lohman chủ sự nghi lễ. Cha xứ Murphy xúc xẻng đất dào chân móng đầu tiên.
|
 | | Sau đó, ngày 15 tháng 2 năm 1953, Đức Tổng Giám Mục Rummel, giáo phận New Orleans đã đến địa điểm làm phép | | | và đặt viên đá đầu tiên cho ngôi thánh đường.
|
 | | Đêm Giáng Sinh 1953, mặc dầu ngôi thánh đường chưa hoàn tất trăm phần trăm, cha con giáo xứ thánh Antôn đã vui | | | mừng cử hành thánh lễ đầu tiên trong ngôi thánh đường mới (chính là ngôi thánh đường ngày nay của giáo xứ).
|
 | | Giáo xứ được Chúa chức lành nhiều mặt. Nhiều người thành đạt trở về phục vụ giáo xứ, trong đó đặc biệt có các linh | | | mục và nam nữ tu sĩ. Đời sống giáo xứ khởi sắc với tình tương thân tương ái và việc tông đồ mở mang nước Chúa.
|
 | | Năm 1964, lại thêm một số giáo xứ con tách biệt ra khỏi giáo xứ mẹ Antôn, đó là giáo xứ thánh Charles Borromeo. | | | Nhưng cũng bắt đầu từ thời gian này giáo xứ bắt đầu đi xuống khi có các hảng xưởng kỹ nghệ mọc lên, nhất là nhà của dân chúng bị san bằng để lấy đất xây xa lộ I-10, sát bên nhà trường nhiều gia đình dọn ra những khu vực mới về phía đông của thành phố, và vì vậy, năm 1967, trường trung học phải đóng cửa. Trường tiểu học còn tiếp tục cho đến năm 1985, rồi cũng bị đóng cữa trong nổi buồn của giáo xứ.
|
 | | Người Việt Nam đã hiện diện trong giáo xứ từ những tháng cuối năm 1975 sau khi giáo xứ đứng ra bảo trợ 4 linh mục | | | và một số gia đình Việt Nam từ các trại tị nạn.
|
 | | Trong số 4 linh mục này, có cha cố Phaolô Nguyễn Quang Hiền được cử làm phó xứ ở Lakeland. Cha cố cũng là Quảng | | | Nhiệm tiên khởi của Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam ở Baton Rouge (CĐCGVNBR). Hằng tuần cha về nhà thờ Thánh Antôn hoặc nhà thờ Thánh Tâm (Sacred Heart) để làm lễ cho giáo dân Viện Nam mỗi ngày một gia tăng.
|
 | | Các gia đình Việt Nam tiên khởi được cho tạm trú tại Nhà Trắng (ngày xưa là nhà xứ Thánh Antôn). Linh mục Vũ Ngọc | | | Thân, khi đó là một thanh niên 17 tuổi, đã từng sống trong Nhà Trắng thời gian này. Nhiều người trong số các gia đình Việt Nam tiên khởi hiện vẫn còn sinh sống tại Baton Rouge.
|
 | | Năm 1987, Đức Cha Ott, giám mục Baton Rouge bổ nhiệm cha Nguyễn Việt Hưng làm quản nhiệm giáo xứ Thánh | | | Antôn, đồng thời CĐCGVNBR trở thành một thành phần của giáo xứ này.
|
 | | Thực ra trước đó, cha Nguyễn Việt Hưng đã được bổ nhiệm về trông coi CĐCGVNBR vào cuối năm 1983 thay thế cha | | | cố Hiền vều hưu. Khi đó ngài cũng là phó xứ Sacred Heart nen CĐCGVNBR là thành phần của xứ Sacred Heart cho đến khi theo ngài sang giáo xứ thánh Antôn vào năm 1987.
|
 | | Ngay 21 Thang 01 Năm 2000, Đức Cha Alfred Hughes đã chính thức đổi tên xứ Thán Antôn thành xứ thánh Antôn và | | | Lê Văn Phụng để nói lên sự hợp nhất của CĐCGVN với giáo xứ. Đây là giáo xứ duy nhất của giáo phận Baton Rouge mang tên một thánh tử đạo Việt Nam.
|
 | | Sau 17 năm lãnh đạo và xây dựng giáo xứ về lãnh vực tinh thần, cha Nguyễn Việt Hưng đã từ giả giáo xứ vào tháng 7 | | | năm 2004 để trở về với Tu Hội Tận Hiến và chuyên tâm trong lãnh vực Giáo Lý. Từ nhiều năm qua, ngài là Trưởng Ban Giáo Lý Toàn Quốc và chuyên lo huấn luyện giáo lý viên cũng như ấn hành sách giáo lý song ngữ Việt-Mỹ cho học sinh Việt Nam trên toàn nước Mỹ.
|
 | | Cha Phanxicô Nguyễn Hải Minh được bài sai của Đức Giám Mục Baton Rouge về làm chánh xứ tiếp nối cha Nguyễn | | | Việt Hưng kể từ tháng 7 năm 2004.
|
 | | Vào ngày 21 tháng 11 năm 2004, Đức Cha Robert W. Muench, giám mục giáo phận Baton Rouge sẽ về cử hành thánh | | | lễ mừng 50 năm kỷ niệm ngày thánh hiến thánh đường giáo xứ. Nhân dịp này Ngài cũng chính thức cử cha Nguyễn Hải Minh làm tân chánh xứ thánh Antôn và Lê Văn Phụng.
|
|
|